THỜI SỰ - CHÍNH TRỊ
Cập nhật lúc Chủ nhật, ngày 31 tháng 5 năm 2026 - 14:55 (GMT+7)
Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 6/2026

Từ tháng 6/2026, nhiều chính sách mới chính thức có hiệu lực, nổi bật là sửa đổi, bổ sung một số quy định về Thuế giá trị gia tăng

Từ tháng 6/2026, nhiều chính sách mới chính thức có hiệu lực, nổi bật là sửa đổi, bổ sung một số quy định về Thuế giá trị gia tăng

 [1] Sửa đổi, bổ sung một số quy định về Thuế giá trị gia tăng từ 20/6/2026

Ngày 5/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP.

Nghị định 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/6/2026.

[2] Bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng từ 20/6/2026

Căn cứ theo Điều 1 Nghị định 144/2026/NĐ-CP, từ ngày 20/6/2026, một số đối tượng được bổ sung vào diện không chịu thuế GTGT, bao gồm:

- Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung.

- Bán nợ bao gồm bán khoản phải trả và khoản phải thu, bán chứng chỉ tiền gửi (sửa đổi, bổ sung khoản 4).

- Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác theo định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô được quy định tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) ban hành kèm theo Nghị định 144/2026/NĐ-CP.

Trong trường hợp cần thiết phải điều chỉnh sản phẩm xuất khẩu tại Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội, định hướng của nhà nước về không khuyến khích xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu các tài nguyên, khoáng sản thô trong từng thời kỳ, Bộ Công Thương xác định và đề xuất điều chỉnh Danh mục gửi Bộ Tài chính chủ trì, nghiên cứu, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.

[3] Sửa đổi quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng từ 20/6/2026

Căn cứ theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 144/2026/NĐ-CP đã sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng như sau:

"2. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa (bao gồm cả tài sản cố định), dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ tính thuế. Trong đó:

a) Tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng; doanh thu của hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng; giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý (trừ trường hợp giá trị gia tăng âm (-)) và doanh thu của hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định 181/2025/NĐ-CP (nếu có).

Riêng doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng; doanh thu của hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác định theo quy định của pháp luật về chứng khoán; doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm”.

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng bổ sung điểm b vào sau điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng như sau:

“c) Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản này bao gồm cả doanh thu của hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng (nếu có) quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15.".

[4] Quy định mới về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt 20/6/2026

Về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, Điều 4 Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

“g) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng. Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.”.

[5] Thay thế Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II)

Thay thế Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) ban hành kèm theo Nghị định 181/2025/NĐ-CP thành Danh mục (Phụ lục I, Phụ lục II) ban hành kèm theo Nghị định 144/2026/NĐ-CP.

 [6] Kéo dài việc giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng xăng dầu về 0% đến 30/6/2026

Ngày 09/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 72/2026/NĐ-CP điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu xuống mức 0% tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định 26/2023/NĐ-CPthời gian áp dụng đến hết ngày 30/4/2026.

Nghị quyết 25/2026/NQ-CP nêu rõ: Kéo dài thời hạn áp dụng của Nghị định 72/2026/NĐ-CP đến hết ngày 30/6/2026.

Như vậy, thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu xuống tiếp tục chịu mức được tiếp tục hưởng mức thuế suất 0% đến hết ngày 30/6/2026 thay vì đến hết ngày 30/4/2026.

[1] Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp từ 25/6/2026

Ngày 06/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 146/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Nghị định 146/2026/NĐ-CP gồm 4 chương, 42 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính, hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Nghị định 146/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/6/2026.

[2] Phạt tới 80 triệu đồng đối với các hành vi lấn, chiếm rừng từ 25/6/2026

Căn cứ theo Điều 10 Nghị định 146/2026/NĐ-CP quy định xử phạt các hành vi lấn, chiếm rừng với các mức phạt cụ thể như sau:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích dưới 1.000 m2;

+ Rừng sản xuất có diện tích dưới 500 m2;

+ Rừng phòng hộ có diện tích dưới 100 m2;

+ Rừng đặc dụng có diện tích dưới 50 m2.

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 5.000 m2;

+ Rừng sản xuất có diện tích từ 500 m2 đến dưới 3.000 m2;

+ Rừng phòng hộ có diện tích từ 100 m2 đến dưới 2.000 m2;

+ Rừng đặc dụng có diện tích từ 50 m2 đến dưới 1.000 m2.

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 5.000 m2 đến dưới 10.000 m2;

+ Rừng sản xuất có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 5.000 m2;

+ Rừng phòng hộ có diện tích từ 2.000 m2 đến dưới 4.000 m2;

+ Rừng đặc dụng có diện tích từ 1.000 m2 đến dưới 3.000 m2.

- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 10.000 m2 đến dưới 20.000 m2;

+ Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 m2 đến dưới 8.000 m2;

+ Rừng phòng hộ có diện tích từ 4.000 m2 đến dưới 6.000 m2;

+ Rừng đặc dụng có diện tích từ 3.000 m2 đến dưới 4.000 m2.

- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 20.000 m2 đến dưới 30.000 m2;

+ Rừng sản xuất có diện tích từ 8.000 m2 đến dưới 10.000 m2;

+ Rừng phòng hộ có diện tích từ 6.000 m2 đến dưới 8.000 m2;

+ Rừng đặc dụng có diện tích từ 4.000 m2 đến dưới 5.000 m2.

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 30.000 m2 đến dưới 40.000 m2;

+ Rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 m2 đến dưới 15.000 m2;

+ Rừng phòng hộ có diện tích từ 8.000 m2 đến dưới 12.000 m2;

+ Rừng đặc dụng có diện tích từ 5.000 m2 đến dưới 7.000 m2.

- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 40.000 m2 đến dưới 50.000 m2;

+ Rừng sản xuất có diện tích từ 15.000 m2 đến dưới 20.000 m2;

+ Rừng phòng hộ có diện tích từ 12.000 m2 đến dưới 15.000 m2;

+ Rừng đặc dụng có diện tích từ 7.000 m2 đến dưới 10.000 m2.

- Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các trường hợp sau:

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích 50.000 m2 trở lên;

+ Rừng sản xuất có diện tích 20.000 m2 trở lên;

+ Rừng phòng hộ có diện tích 15.000 m2 trở lên;

+ Rừng đặc dụng có diện tích 10.000 m2 trở lên.

- Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 10 Nghị định 146/2026/NĐ-CP.

- Mức phạt hành vi lấn, chiếm rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 10 Nghị định 146/2026/NĐ-CP áp dụng đối với rừng trồng. Trường hợp lấn, chiếm rừng tự nhiên thì áp dụng mức phạt bằng hai lần đối với hành vi tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 10 Nghị định 146/2026/NĐ-CP.

- Hành vi lấn đất hoặc chiếm đất nông nghiệp là đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng

Chính sách mới có hiệu lực tháng 6 2026 chi tiết như thế nào? (Hình từ Internet)

Nội dung tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật gồm những gì?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 59 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, nội dung tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật gồm:

- Ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

- Giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Phổ biến, giáo dục văn bản quy phạm pháp luật;

- Hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật; tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật; tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ;

- Giám sát, kiểm tra, rà soát, hợp nhất, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.

Việc thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật dựa trên căn cứ nào?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 63 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, việc thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật dựa trên các căn cứ sau:

- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành;

- Kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật;

- Theo yêu cầu, chỉ đạo của cơ quan, người có thẩm quyền.

Nguồn: Thư viện pháp luật


In
Về đầu

ĐÂY LÀ CHẾ ĐỘ XEM TRƯỚC, BÀI VIẾT CHƯA ĐƯỢC DUYỆT

       
Đang trực tuyến: 5 Lượt truy cập: 1.683.551