Theo tài liệu nghiên cứu của Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến (1947- 1948), Sở Đúc tiền Bộ Tài chính đảm nhận nhiệm vụ in tiền nhôm có mệnh giá 10 đồng, 20 đồng... phục vụ cho nhu cầu cách mạng. Đến đầu năm 1949, Sở Đúc tiền được giao nhiệm vụ đặc biệt là nghiên cứu sản xuất đồng tiền vàng, được gọi là “Đồng Việt” để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, phục vụ cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc.
Đây là một công việc đầy khó khăn trong điều kiện thiếu thốn về trang thiết bị máy móc. Việc sản xuất đồng tiền vàng phải có cơ sở hiện đại để chiết xuất vàng thành vàng tinh chất 99,9%, sau đó phải hợp kim với đồng theo tỷ lệ quy định gọi là hàm lượng vàng của đồng tiền.
Sau khi được Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến giao nhiệm vụ sản xuất đồng tiền vàng theo yêu cầu của Đảng, Chính phủ, Giám đốc Sở Đúc tiền Nguyễn Văn Danh và các cộng sự đã tham khảo ý kiến của một số hàng binh Nhật có kinh nghiệm trong lĩnh vực đúc tiền vàng cùng bàn bạc lên nhiều phương án. Từ kinh nghiệm của các nghệ nhân trong việc sử dụng vàng làm đồ châu báu, tư trang được đánh giá chất lượng theo tỷ trọng vàng nguyên chất, Sở Đúc tiền đã đề ra phương án sản xuất đồng tiền vàng bằng phương pháp thủ công.
Trong điều kiện kháng chiến trang thiết bị thiếu thốn, khó khăn nhưng cán bộ Sở Đúc tiền đã nỗ lực khắc phục mọi khó khăn để sản xuất cho được đồng tiền vàng. Ông Hoàng Ngọc, thợ điêu khắc trên thép duy nhất ở nước ta lúc đó, là người gốc Hà Nội ở phố Hàng Bạc được giao nhiệm vụ tìm người xử lý việc đúc vàng các loại ra vàng lá diệp (gần giống như vàng 99%). Ông Hoàng Ngọc đã tìm được ông Đỗ Trọng Long - chuyên nghề kim hoàn sống ở thị xã Tuyên Quang. Ông Long là người có tâm huyết với cách mạng từ ngày đầu kháng chiến, đã tham gia vào Ban chỉ đạo Tuần lễ vàng ở thị xã Tuyên Quang với trách nhiệm đánh giá kiểm kê các đồ bằng vàng do nhân dân ủng hộ Chính phủ.

Đồng tiền vàng được đúc tại Sở Đúc tiền vào năm 1948
Ông Long khẳng định có thể làm được đồng tiền vàng bằng phương tiện, nguyên vật liệu dễ tìm ngay tại thị xã Tuyên Quang, chỉ yêu cầu Sở Đúc tiền cung cấp một cái cân vàng hiện đại (vì không dùng được cân tiểu ly của nghề làm vàng thủ công). Với tinh thần tự nguyện không lấy lương của Chính phủ, ông Long dành mọi thời gian và công sức cùng cán bộ, nhân viên Sở Đúc tiền miệt mài nghiên cứu cách sản xuất đồng tiền vàng.
Sau gần một năm vừa chuẩn bị, nghiên cứu các quy định, quy trình, thủ tục giao nhận vàng các loại và tiến hành sản xuất, ông Long cùng cán bộ, nhân viên Sở Đúc tiền đã hoàn thành nhiệm vụ luyện toàn bộ số vàng của Chính phủ (chủ yếu là vàng được ủng hộ trong Tuần lễ vàng năm 1945 bao gồm vàng ta, vàng tây, đồ trang sức...) ra vàng thoi nguyên chất, từ đó hợp kim làm ra đồng tiền vàng lịch sử của nước ta. Ông Long cùng với một số người giúp việc đã lấy những nguyên liệu sẵn có như gạch non, muối ăn, than gỗ đốt, cộng với tay nghề và đôi mắt điêu luyện của người nghệ nhân chuyên nghề kim hoàn chỉ nhìn qua ánh lửa điều khiển quá trình luyện vàng theo những tiêu chuẩn của nghề luyện vàng cổ truyền đã đạt được kết quả như mong muốn. Ngoài ra, ông Long còn thu hồi vàng hao hụt nằm tại lò luyện, nộp trả cho Chính phủ (theo quy ước của nghề vàng truyền thống, số vàng này chủ không lấy mà cho thợ hưởng để ăn tết).
Một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất “Đồng Việt” là khắc hình dương bản Bác Hồ trên thép để rồi nhân ra các khuôn hình âm bản cũng bằng thép, từ đó in ra “Đồng Việt”. Với đồng nhôm có hình Bác Hồ ông Hoàng Ngọc với tay nghề điêu luyện điêu khắc trên thép đã khắc không mấy khó khăn, nhưng với “Đồng Việt” khắc được hình ảnh đẹp đồng thời toát lên được thần thái cương nghị của người cộng sản Hồ Chí Minh trên chất liệu thép trong điều kiện chỉ được trang bị búa, ve khắc và kính lúp phóng đại hình ảnh Bác Hồ là công việc vô cùng vất vả, phức tạp nhưng cuối cùng ông Ngọc và các cộng sử của mình đã thiết kế thành công được các bản mẫu hình Bác Hồ khắc trên nhôm, thép, sau đó được in trên đồng vàng.
Việc khuôn khắc dương tính (gọi là khuôn mẹ) ra các khuôn thép âm tính để in tiền và xử lý các điều kiện thiết bị kỹ thuật có liên quan như sửa chữa máy dập có sức nén 150 tấn, giải quyết động lực chạy máy... đều gặp khó khăn do máy móc đều bị hư hỏng trong quá trình di chuyển, nhiều bộ phận bị mất, hoặc máy động lực tìm kiếm không đồng bộ với máy dập. Tập thể cán bộ trong tổ sản xuất rèn, nguội, lắp ráp máy tiện phải thường xuyên họp bàn nghiên cứu tìm tòi, huy động tập thể cán bộ nhân viên của Sở Đúc tiền để tìm ra những sáng kiến, giải pháp hoàn thành tốt nhiệm vụ được cấp trên giao.
Số tiền vàng được đúc ra Đảng và Nhà nước có ý định sử dụng trong cả nước, nhưng vì khó có thể huy động được lượng lớn vàng 999 trong thời kỳ đất nước có chiến tranh. Vì vậy, không thể đáp ứng nhu cầu chi tiêu bằng tiền vàng. Sau khi sản xuất được khoảng 1000 đồng tiền vàng, Sở Đúc tiền nhận được chỉ thị của Bộ Tài chính cho ngừng sản xuất.
Ngoài việc sản xuất đồng tiền vàng, tiền nhôm, Sở Đúc tiền còn sản xuất các loại huân chương để Chính phủ trao tặng cho cá nhân và tập thể có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Nguồn: Sách "Các lịch sử ngành Tài chính" (Nhà xuất bản Tài chính)